Phối quẻ Táo – Môn: Bếp Khảm

Mục lục bài viết

Bếp số 9 : Bếp KHẢM phối với Cửa KHẢM

(ở Bát trạch là bếp Phục vị đắc vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Bát Thuần Kiền).

o Bếp Khảm phối Cửa Khảm, hai Thủy tỷ hòa thừa Phục vị Mộc lâm Khảm Thủy tương sanh đắc vị. Cho nên: tiền tài rất phúc hậu, sản nghiệp hưng long. Đó là sơ niên rất tốt như vậy, thuận lợi như vậy. Nhưng vì hai Khảm thuần Dương thiếu Am tất nam nữ đoản thọ, về sau lâu số nhân đinh thưa bớt dần dần, những bệnh sẽ xảy đến là sưng phù da thịt, bệnh thủy trướng, sa thai (lọt con), bạch đái, sán khí (sưng dái), băng lậu.

o Lại còn lời đoán cho quẻ KHẢM như vầy: Quẻ Bát Thuần Khảm, 9 năm lợi lộc, bọn trung nam kiêu ngạo, khoe khoang, hoang dâm, phóng đãng, làm tổn hại vợ con.

Bếp số 10 : Bếp KHẢM phối với Cửa CẤN

(ở Bát trạch là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Sơn Kiển).

o Cửa cấn khắc Bếp Khảm là ngoài khắc vào trong rất hại cho nên trong, trung nam bệnh chết (Khảm thuộc trung nam). Lại là Bếp Ngũ quỷ nguy hại hơn các Bếp

hung khác, tiểu nhi thọ thương vì ngực bụng tích chứa hòn cục, huynh đệ phân cách, vợ chồng ly dị, sanh đẻ nguy, kinh nguyệt bế tắc, thắt cổ trầm sông, tai nạn phỏng cháy, trộm cướp, quan pháp nhiễu nhương).

o Lại còn lời đoán về quẻ Kiển như vầy: Than ôi quẻ Kiển: nào là bệnh phù thũng (da thịt sưng phù lên), bệnh da vàng bạch, nào là bệnh trĩ, bệnh điên cuồng, nào là điếc lác, ngọng nghịu… Thương thay cho gia bại nhân vong, thân mạng trôi giạt khốn cùng.

Bếp số 11 : Bếp KHẢM phối với Cửa CHẤN

(Đây là Bếp Thiên y thất vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Lôi Truân).

o Bếp Khảm phối Cửa Chấn được cách Thủy Mộc tương sanh và là Bếp Thiên y, cái Bếp phú quí cực phẩm (đẳng cấp cao). Sơ niên sanh 3 con, gia đình hòa thuận, phước lộc thịnh phát, vẻ vang. Nhưng bởi Khảm với Chấn thuần Dương tất làm bất lợi cho âm, về lâu sau phụ nữ chết sớm, số nhân khẩu chẳng thêm.

o Lại còn lời Đoán theo quẻ Truân như vầy: Quẻ Truân định chắc làm phú ông (nhà giàu), con cháu tài trí hơn người: khoa cử đỗ đầu, chiếm giải Trạng nguyên, được vua yêu mến và ban ân. Phước tự Trời cho, sanh 3 con trai.

Bếp số 12 : Bếp KHẢM phối với Cửa TỐN

(Đây là Bếp Sinh khí đắc vị. Nơi Kinh Dịch là quẻ Thủy Phong Tĩnh).

o Bếp Khảm Dương Thủy phối Cửa Tốn Am Mộc được cách Am Dương Thủy Mộc tương sanh và là Bếp Sinh khí đắc vị tức thị Tham lang Mộc tinh được ngôi, cho nên: sanh 5 trai anh hùng, ruộng nương cùng tiền của đều phong thịnh, khoa cử đậu liên tiếp, nam thông minh nữ tuấn tú, con hiếu cháu hiền, lục súc hưng vượng… Thật là một cái Bếp đại kiết vậy.

Lại còn lời đoán theo quẻ Tỉnh như vầy: Quẻ Tỉnh, cây gặp nước, Am Dương phối hợp, con cháu rất hưng long, ruộng nương cùng dâu tằm đều thêm lợi ích, đã giàu có lại sang trọng, nhân đinh ngày thêm đông.

Bếp số 13 : Bếp KHẢM phối với Cửa LY

(Đây là Bếp Diên niên đắc vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Hỏa Ký tế).

• Bếp Khảm hiệp với Cửa Ly, Am Dương chính phối, là được Bếp Diên niên đắc vị, tức thị Vũ khúc Kim tinh đặng ngôi cho nên: phú quí song toàn, nhân đinh càng thêm rất đông. Nhưng vì Khảm Thủy khắc Ly Hỏa mà về sau lâu trung nữ đoản thọ, sanh ra bệnh đau tim đau mắt (Bởi Ly bị khắc và Ly thuộc trung nữ, thuộc tim, mắt).

• Lại còn lời đoán theo Quẻ Ký tế như vầy: Quẻ Ký tế, có thành chớ không có bại. Tuy tương khắc mà Am Dương cải phối, Trời cho thịnh vượng gia tài, nam nữ đều có phước và trường thọ. Bất quá là buồn sầu vì mắt bị bệnh tật vậy thôi, nhưng ở nhằm hung trạch có thể mắt bị mù.

(Chú ý: Trên nói trung nữ đoản thọ vì Ly bị khắc, với lại nói nam nữ đều trường thọ vì Diên niên có nghịa là sống lâu ảnh hưởng cho cả Khảm Ly. Hãy suy luận và rút kinh nghiệm.

Bếp số 14 : Bếp KHẢM phối với Cửa KHÔN

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. Ở Kinh Dịch là Quẻ Thủy Địa Tỷ).

• Cửa Khôn khắc Bếp Khảm là ngoài khắc vào trong, tai họa nặng và đến mau. Lại là Bếp Tuyệt mệnh rất dữ; gây hại cho hàng trung nam (Khảm bị khắc). Sanh nhiều chứng bệnh như: phong cuồng, điếc lác, câm ngọng, bệnh phù thũng, da vàng, thủy trướng, cổ họng nghẹt hơi, kinh nguyệt phụ nữ chẳng thông hoạt, các chứng hư lao.

• Lại có lời đoán theo Quẻ Tỷ như vầy: Quẻ Tỷ, dâm dương, lọt thai, nhân mạng tự ải (treo cổ), trầm sông, đâm chém, phá tán tiền của, các họa hoạn đến cấp kỳ. Bất quá sanh được một con là may.

Bếp số 15 : Bếp KHẢM phối với Cửa ĐOÀI

(Đây là Bếp Họa hại – hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Trạch Tiết).

• Bếp Khảm bị Cửa Đoài làm hao tán khí lực cho nên sự tổn hại ứng vào hạng trung nam. Bếp Khảm Thủy thừa Họa hại Thổ là hung tinh khắc cung, con cháu lâm cảnh bại tuyệt, sanh non hoặc thai bằng, các bệnh thũng, cổ trướng, di tinh, thổ huyết.

• Lại có lời đoán theo quẻ Tiết như vầy: Quẻ Tiết sanh ma chướng độc hại người, tán tài, kiện tụng, bị trộm cướp, những vụ hẹn hò dâm bôn, trốn chạy.

Bếp số 16 : Bếp KHẢM phối với Cửa KIỀN

(Đây là Bếp Lục sát – hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Thiên Nhu).

• Bếp Khảm Thủy thừa Lục sát cũng Thủy; Thủy nhiều tất ưa dâm. Lại còn thêm có Cửa Kiền Kim tiếp sanh Thủy nữa là quá độ, khiến cho cha ông (Kiền) vì khô tinh kiệt sức mà chết, trung tử là hàng con giữa (Khảm) vì vụ dâm mà chạy trốn, phụ nữ đoản thọ, sanh non, băng huyết, bệnh thủy trướng, phù thũng, mộng tinh, tà dâm, trong nhà bấn loạn và ô trọc.

• Lại có lời đoán theo quẻ Nhu như vầy: Quẻ Nhu, tiểu nhi khó nuôi, con cháu ngỗ nghịch mà ngu ngoan (vô trí thức), trai thì ở vậy (không lấy vợ) phụ nữ thì góa bụa cam chịu cô tẻ lạnh lùng… Lại Khảm với Kiền thuần Dương tất hại Am, sanh tật bệnh và nhiều điều bất lợi.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on linkedin
Share on twitter
Share on email

Các bài viết khác