Phối quẻ Táo – Môn: Bếp Khôn

Mục lục bài viết

Bếp số 49 : Bếp KHÔN phối với Cửa KHÔN

(Đây là Bếp Phục vị thất vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Bát Thuần Khôn).

• Bếp Khôn phối với Cửa Khôn là hai Thổ tỷ hòa, mà Thổ thì sanh Kim cho nên tiền của chất đầy nhà, phú quí có dư. Nhưng không khỏi cái hại nhiều Am mà chẳng có Dương, nữ nhiều nam ít, mẹ già (Khôn) quản lý gia đình, một nhà đàn bà góa, không con thừa tự.

• Lại có lời đoán theo quẻ Khôn như vầy: Quẻ Khôn, gia tài hưng vượng trâu, dê, ruộng nương, tơ tằm đều thành thục, trong nhà ổn thỏa, năm này qua năm khác bình yên. Chỉ hiềm một nỗi không con nối dõi dòng họ.

Bếp số 50 : Bếp KHÔN phối với ĐOÀI

(Đây là Bếp Thiên y đăng diện. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Trạch Lâm).

• Bếp Khôn Am Thổ phối Cửa Đoài Am Kim, Thổ với Kim tương sanh lại được Thiên y tức Cự môn Thổ tinh đăng diện: tiền tài cùng sản nghiệp tiến lên, nam nữ đều nhân từ và hiếu nghĩa. Nhưng Khôn gặp Đoài là tượng mẹ và con gái ở chung, là tượng thuần Am chẳng sinh hóa được, phụ nữ nắm giữ gia đình, chồng con bị khắc hại. Tóm lại, lúc đầu đại phát mà về sau lâu bất lợi.

• Lại có lời tượng theo quẻ Lâm như vầy: Quẻ Lâm, , mọi sự đều tốt, mưu sinh và động tác đều chẳng sai lầm. Chỉ buồn vì cái đạo nghĩa cùng tận ắt biến sinh ra khác, quyết đoán là cả nam nhân lẫn nữ đều yểu và góa bụa.

Bếp số 51 : Bếp KHÔN phối với Cửa KIỀN

(Đây là Bếp Diên niên đắc vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Thiên Thái).

• Bếp Khôn Am Thổ phối với Cửa Kiền Dương Kim, Am Dương có đủ, Thổ với Kim tương sanh, lại được Diên niên đắc vị tức Vũ khúc Kim tinh được ngôi, thố của thịnh vượng, con gái thanh tú. Bậc quân tử quan nhân thì thêm chức tước cùng quan lộc, hàng thường dân thì nhà thêm đông người và tấn phát tiền tài. Thật là một cái Bếp đại kiết, đại lợi.

• Lại có lời đoán theo quẻ Thái như vầy: Khôn là Đất, Kiền là Trời. Trời Đất hiệp nhau mà vạn vật sanh thành và hưng thái, ấy là quẻ Thái vì thế: gia đọa vinh xương, phu phụ đồng đều hiếu nghĩa và hiền lương. Người mẹ cải tạo cho trăm việc tốt lành là bởi Khôn ngộ kiết tinh (Diên niên). Vậy nên: mừng tốt tới đầy của, phúc lộc chẳng bờ ngăn.

Bếp số 52 : Bếp KHÔN phối với Cửa KHẢM

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Thủy Sư).

• Bếp Khôn Thổ khắc Cửa Khảm Thủy, hàng trung nam thọ hại, mang bệnh thũng da vàng rồi chết. Khôn thừa Tuyệt mệnh: mẹ già mang bệnh phong cuồng rồi cũng mạng vong. Các chứng bệnh do Bếp: bệnh cổ trướng, kinh nguyệt chậm trễ, hư thai, bại thận, câm điếc, thân thể gầy khô. Thật là một cái Bếp rất hung hại, khiến cho cả nam lẫn nữ điêu linh, trẻ con khó còn để lớn, các vụ quan pháp cùng miệng tiếng làm rối ren, hại người tổn lục súc… Cứ 3 năm hoặc 5 năm, từng lớp từng lớp ứng hiện các tai họa.

• Lại có lời đoán theo quẻ Sư như vầy: Quẻ Sư, thương tổn cả nam lẫn nữ, dưỡng tử bỏ đi đầu quân, tim đau, tê bại, bệnh hoạn đeo thân, năm này qua năm khác cứ thương nhân tổn súc (tổn hại người cùng lục súc).

Bếp số 53 : Bếp KHÔN phối với Cửa CẤN

(Đây là Bếp Sinh khí thất vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Sơn Khiêm).

• Bếp Khôn Am Thổ phối Cửa Cấn Dương Thổ, hai Thổ có Am Dương đắp nên bờ lũy. Cũng gọi là mẹ gặp con trai nhỏ (Khôn gặp cấn) là tượng hoan hỉ, mẹ từ thiện con hiếu kính. Lại thừa Sinh khí tức Thanh long nhập trạch, tích tụ đa số tiền tài và trân bửu. Nhưng hiềm Sinh khí Mộc thất vị, khắc cả Khôn và Cấn Thổ cho nên: lúc đầu thịnh vượng, lúc giữa suy dần, dùng lâu sau sanh bệnh thũng da vàng, tim bụng đau nhức.

• Lại có lời đoán theo quẻ Khiêm như vầy: Quẻ Khiêm nhiều phú quí, nhiều hưng vượng, lục súc và tiền tài đều phát đạt. Hai năm hoặc năm năm khởi tạo nên gia nghiệp, lại nổi danh về thư sách và khoa giáp, người người đều đặng may tốt chẳng sai, người người đều hiền lương mà khởi làm nên nhà cửa, mẹ già luyến yêu con trẻ. Chỉ buồn vì mẫu thân bệnh chết lâu xa rồi con nhỏ mới trưởng thành.

Bếp số 54 : Bếp KHÔN phối với Cửa CHẤN

(Đây là Bếp Họa hại – hung táo. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Lôi Phục).

• Cửa Chấn Mộc khắc vào Bếp Khôn Thổ là ngoài khắc vào trong, sự thể trọng đại, lão mẫu là chính nhân bị tổn thương. Ngoài ra còn âm nhân và tiểu nhi mang u bướu ngực, phụ nữ bệnh huỳnh đản, trưởng tử nghịch với mẹ và hại nhục đàn em, cờ bạc, tham lam, phá gia bại sản. Lại còn sanh ra các bệnh yết hầu ủng tắc (nghẹt), hơi độc xung lên tim, bụng dạ dày bành trướng không còn muốn ăn uống. Chết người hết của là cái Bếp này.

• lại có lời đoán như vầy: Chấn Mộc khắc Khôn Thổ, trưởng nam là kẻ đáng sợ vì nó nghịch mẹ hại em không còn tự do. Lão mẫu vì nhiều nguyên nhân mà mang bệnh huỳnh đản rồi chết, tiểu nhi sanh u bướu tại sau đầu, âm nhân bị tổn thương. Ruộng, tằm, ngũ cốc trồng không chín. Trẻ con cùng lục súc đáng ngại thay. Khá thương nhân khẩu lắm phen tổn hại.

Bếp số 55 : Bếp KHÔN phối với Cửa TỐN

(Đây là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Phong Thăng).

• Bếp Khôn Am Thổ bị Cửa Tốn Am Mộc khắc biến thành Bếp Ngũ quỷ rất dữ tợn. Nó gây hại cho mẹ già nhiều nhất. Lại thuần Am khiến cho nam tử đoản thọ. Bà với cháu bất hòa. Đây là kiểu Bếp cô quả, tuyệt tự, dâm loạn mà không người chủ quyền. Các chứng bệnh sanh ra là ăn uống nghẹn khí, nấc cục, phù thũng da vàng bệch, bụng to vì bị thủy trướng. Lại còn những sự bất lợi như: tai hại về quan pháp, phỏng cháy, sự hại đến bất ngờ hại tới nhân mệnh, đọa tặc từ phương Đông nam xâm nhập, vì các vụ nơi công môn mà phá tán tiền bạc, gây họa liên chiền tới 4 người, tới 5 người chưa thôi. Các năm Dần Ngọ Tuất hoặc tới năm tuổi của người nào trong nhà thì người ấy lâm tai họa.

• Lại có lời tượng ứng theo quẻ Thăng như vầy: Quẻ Thăng, âm khí thịnh lên thái quá cho nên tà quỷ nhập vào nhà làm hung dữ. Một nhà quả phụ náo loạn lên như oửa sấy đốt đến khô khốc. Đáng sợ vì Thần trong nhà chẳng yên (Thần là nói chung thần thánh, các vị được thờ phượng trong nhà).

Bếp số 56 : Bếp KHÔN phối với Cửa LY

(Đây là Bếp Lục sát – hung táo. Ở Kinh Dịch là quẻ Địa Hỏa Minh Di).

• Bếp Khôn Am Thổ bị Cửa Ly Am Hỏa đốt làm cho đất khô rang, lại Khôn với Ly thuần Am cho nên: nam nhân thọ tổn, làm khiếm khuyết con cái, tổn hại nhân khẩu. Hàng trung nữ bệnh đau máu, mắt tật, tim đau nhức, sản lao, kinh nguyệt trồi sụt bất thường. Lão mẫu bị phong cuồng, thủy thũng, huỳnh đản. Lại còn có các vụ đào tẩu (chạy trốn) của nam nữ rất bất lợi.

• Lại có lời đoán theo quẻ Minh Di như vầy: Quẻ Minh Di, gia trưởng bất lợi. Nghĩa tử và hàng dương nhân mạng vận trái sai. Am nhân làm loạn gia tài, gây rối trong nhà. Các việc tai hại do quẻ Minh Di ứng làm bại hoại một cách mau lẹ.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on linkedin
Share on twitter
Share on email

Các bài viết khác