Phối quẻ Táo – Môn: Bếp Cấn

Mục lục bài viết

Bếp số 17 : Bếp CẤN phối với Cửa CẤN

(Đây là Bếp Phục vị Mộc thất vị. Ở Kinh Dịch là quẻ bát thuần Cấn).

• Bếp Cấn phối Cửa Cấn là hai Thổ chồng chất lên thành núi, sơ niên cũng được thuận lợi, khá giả. Song vì thuần Dương thừa Phục vị Mộc thất vị (Phục vị với Cấn tương khắc), sanh lắm tật, trẻ con mạng sống không toàn, phụ nữ đoản thọ. Về sau lâu về vụ ăn uống mà sanh bệnh thũng da vàng, bụng bành trướng to lên, lòng không vui.

• Lại còn lời đoán theo quẻ Cấn như vầy: Quẻ Bát thuần Cấn, tiền tài tấn tới thêm, người khác họ hoặc con nuôi ở chung nhà. Dương thắng Am phải suy cho nên âm nhân tật bệnh, bất lợi.

Bếp số 18 : Bếp CẤN phối với Cửa CHẤN

(Đây là Bếp Lục sát – hung táo. Ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Lôi Di).

• Cửa Chấn Mộc khắc vào Bếp Cấn Thổ là ngoài khắc vào trong, tai họa đến cấp kỳ, lại thừa Lục sát là hung táo, khiến cho trẻ con chẳng an, sanh bì tật (ngực bụng chứa vật) lá lách hư, bao tử lạnh, trụy thai, vợ con bị tổn hại. Và vì thuần Dương chẳng trưởng tấn, lâu năm tuyệt tự, khốn cùng.

• Lại còn lời đoán theo quẻ Di như vầy: Quẻ Di, không giữ gìn được gia thất, sanh ra những chuyện khoét tường dòm ngõ, phân cách, chia ly… Lại bệnh vàng da, do ăn uống mà đau tỳ vị thường không khỏi chết. Phá bại sản nghiệp và chẳng có con trai nối dòng là hai điều không tránh được.

Bếp số 19 : Bếp CẤN phối với Cửa TỐN

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. Ở Kinh Dịch là Quẻ Sơn Phong Cồ).

• Cửa Tốn Am Mộc khắc Bếp Cấn Dương Thổ là từ ngoài khắc vào trong và là Am khắc Dương: chồng và con trai bị tổn hại nặng. Lại là Bếp Tuyệt mệnh rất hung và bởi Am thắng Dương cho nên đàn bà góa nắm quyền, con nuôi chưởng quản gia đình, về sau lâu ắt sẽ có tới ba đời hoặc ba người tuyệt tự. Mộc với Thổ tương khắc nên sanh ra các chứng bệnh kinh phong, tê bại, bệnh lá lách, phù thũng, da vàng.

• Lại còn lời đoán cho quẻ Cồ như vầy: Quẻ Cồ, tiểu nhi bất hòa, phụ nữ gầy xấu tổn thương, tuyệt tự, phá gia, tai ương bất ngờ không biết từ đâu đến (ngoài khắc trong).

Bếp số 20 : Bếp CẤN phối với Cửa LY

(Đây là bếp Họa hại – hung táo. Ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Hỏa Bí).

• Cửa Ly thuộc Hỏa, Bếp Cấn thuộc Thổ, lửa nóng đốt đất phải khô rồi lửa sẽ tàn rụi. Phụ nữ tánh cương bao làm khiếp sợ nam nhân. Trước tổn hại thiếu nam (Cấn), sau tổn hại trung nữ (Ly). Phụ nữ lộng quyền, con cháu vì vụ dâm bôn mà trốn tránh, tiểu nhi mang bì tật (bụng ngực chứa hòn cục), mắt mờ tai điếc, ngọng nghịu, phong cùi, tàn tật, bệnh lao. Lại xảy ra các việc tà ma, lừa phỉnh, sự hại đến bất ngờ. Tuy cũng có chút ít gia tài mà vợ chồng sai trái nhau, không cùng quan niệm.

• Chú ý: Bếp Cấn với Cửa Ly tương sanh nhưng tại sao lại luận đoán rất nhiều tổn hại như trên? Đó là bởi tương sanh nhưng biến sinh Họa hại là hung du niên. Nhưng Khôn với Ly hay Kiền với Khảm cũng tương sanh nhưng vì sinh biến ra Lục sát là hung du niên tất vẫn gây tai họa. Trái lại là Ly với Khảm tương khắc nhưng biến sinh ra Diên niên là kiết du niên cho nên vẫn luận tốt).

• Lại còn lời đoán theo quẻ Bí như vầy: Quẻ Bí, người chia ly, tiền của tiêu tán. Nữ nhân trôi giạt tha phương làm các việc thối tha, bị đồn dậy lên tiếng xấu, trong 8 năm sẽ chết hoặc trốn đi biệt tích. Hai hạng tôn ti (cáo thấp) và lớn nhỏ không chịu đựng nổi với nhau mà sanh rối loạn trong gia đình.

Bếp số 21 : Bếp CẤN phối với Cửa KHÔN

(Đây là Bếp Sinh khí thất vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Địa Bác).

• Bếp Cấn Dương Thổ phối Cửa Khôn Am Thổ, đất chồng lên đất cao thành núi, lại là tượng mẹ gặp con vui lòng thỏa dạ, gia nghiệp hưng tiến, con trai con gái đông đủ mà dàng hoàng, hay lạy Phật tụng kinh và ưa làm việc lành. Nhưng lâu năm rồi Bếp này lại khiến cho tỳ vị suy nhược, ăn mất ngon, bụng đau, da vàng bệch. (Cấn Khôn là Am Dương tỷ hòa, Thổ ứng như Thiên y Thổ: hay niệm Phật làm lành. Thổ thuộc về tỳ vị bị Sinh khí Mộc khắc cho nên tỳ vị suy nhược khiến ăn chẳng ngon… Bếp Sinh khí đáng lẽ rất tốt, bởi Sinh khí Mộc thất vị, khắc Cấn Khôn, tinh khắc cung: bớt tốt).

• Lại có lời đoán theo quẻ Bác như vầy: Quẻ Bác lưỡng Thổ thành Sơn, vàng bạc của cải chất thành đống, con thuận theo mẹ vừa lòng đẹp ý. Thiên tâm quá, thương con nhỏ.

Bếp số 22 : Bếp CẤN phối với Cửa ĐOÀI

(Đây là bếp Diên niên đắc vị. Ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Trạch Tồn).

• Bếp Cấn Dương Thổ phối Cửa Đoài Am Kim: Thổ với Kim tương sanh, Am với Dương chính phối, đều là những tượng lý tốt đẹp. Bếp Cấn Thổ thừa Diên niên Kim tương sanh đắc vị: gia tài đại phát, công danh vinh hiển, phụ nữ hiền lương, sanh 4 trai, con quí cháu hiền. Cấn thuộc thiếu nam, Đoài thuộc thiếu nữ, phối kết nhau thật là xứng hợp, một cái Bếp hoàn toàn tốt.

• Lại có lời đoán theo quẻ Tồn như vầy: Quẻ Tồn, thiếu nam và thiếu nữ phối kết nhau như loan phụng hòa minh, hỷ khí tràn vào cửa, hòa khí xông đầy nhà, cha mẹ sống lâu như núi, con gái con trai đầy đủ mà có tiếng thơm như rau quế, nhờ bút mực nên danh lớn (thi đỗ bằng cao), nhờ vũ dũng tiếng vang rền như gió sấm an trấn ngoài biên cương, hiếu nghĩa trung lương tánh vốn sẵn, ngũ cốc đầy kho mấy kẻ bằng.

Bếp số 23 : Bếp CẤN phối với Cửa KIỀN

(Đây là Bếp Thiên y đăng diện. Ở Kinh Dịch gọi là quẻ Sơn Thiên Đại Súc).

• Bếp Cấn Thổ thừa Thiên y cũng Thổ là kiết du niên tỷ hòa đăng diện rất tốt. Bếp Cấn phối Cửa Kiền Kim tương sanh, là tượng con xu phục theo cha, cha hiền lương con hiếu thảo, gia đình sáng chói, hưng thịnh phát phú, hay đi chùa lễ Phật tụng kinh và làm việc phúc thiện. Nhưng vì Cấn với Kiền thuần Dương không có Am cho nên con cháu nhánh trưởng bất lợi, và dùng bếp này lâu năm ắt sẽ tổn hại vợ con. (Bếp Thiên y vốn thuần Am hoặc thuần Dương chỉ tốt ở lúc đầu mà về sau lâu không tốt, vì vậy nên dùng nó độ 10 năm rồi đổi qua bếp Diên niên (Bếp Khôn Cửa kiền là những Bếp có đủ Am Dương phát đạt bền).

• Lại có lời đoán theo quẻ Đại Súc như vầy: Quẻ Đại Súc, Cấn phối với Kiền là Thổ với Kim tương sanh, nhà giàu có to, cha với con rất mực thuận hòa. Đây là cái nhà có phước đức cho nên con cháu hưng gia lập nghiệp. Duy hiềm Cấn Khôn toán là cung Dương, Dương nhiều thì Dương thắng mà Am phải suy thì hàng phụ nữ và trẻ con ở thế thua kém, hay bị tật bệnh.

Bếp số 24 : Bếp CẤN phối với Cửa KHẢM

(Đây là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. Ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Thủy Mông).

• Bếp Cấn Thổ khắc Cửa Khảm Thủy và là Bếp Ngũ quỷ hung tợn: có lắm chuyện kỳ quái luồn lọt vào nhà, hạng trung nam bị tổn hại, trẻ con cũng chẳng yên lành, âm nhân đoản thọ, con cháu ngổ nghịch, quan tụng làm khốn khổ, tai họa về lửa (phỏng cháy), trộm cướp và ma quỷ làm loạn.

• Lại có lời đoán theo quẻ Mông như vầy: Quẻ Mông làm thương tổn trung nam và con trẻ, vì rơi nước hay treo cổ mà vong mạng, trong nhà chẳng thuận hòa, con cái làm việc trái lẽ, những chuyện quái gỡ do quỷ thần thao túng.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on linkedin
Share on twitter
Share on email

Các bài viết khác