Hỏi đáp cùng chuyên gia

Dưới đây là những câu hỏi nhiều người thắc mắc, chúng tôi đưa lên để có thể tham khảo chung cho mọi người.
Nhấn vào để xem câu trả lời

Chuyên gia trả lời:
Chào chị, trong ngành Danh tính học Trung Quốc, việc lựa chọn hành của tên chủ yếu liên quan đến Tứ trụ mệnh. Tứ trụ mệnh bao gồm 4 trụ là trụ năm (niên trụ), trụ tháng (nguyệt trụ), trụ ngày (nhật trụ) và trụ giờ (thời trụ). Tứ trụ này khi phân tích theo phép Nguyên cục ngũ hành thì ra được thành phần 5 hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo một tỷ lệ thành phần nhất định. Có hành nhược (tỷ lệ thấp) và hành vượng (tỷ lệ cao). Quy luật của Ngũ hành là các hành phải chế hoá lẫn nhau, để làm cân bằng ngũ hành. Hành nào quá nhược hay quá vượng đều không tốt, và có ảnh hưởng trực tiếp tới mệnh vận. Ví dụ, hành Thuỷ trong Tứ trụ mà quá vượng có thể dẫn đến tai nạn về sông nước, còn quá suy có thể dẫn đến khô héo gầy mòn, các bệnh về thận. Hành Kim vượng lại dẫn đến tai nạn về gươm đao…

Vì vậy phải dùng các phép tiêu vượng bổ khuyết Tứ trụ, giúp cho nó cân bằng trở lại (vì phần lớn mọi người sinh ra thì ngũ hành Tứ trụ thường sẽ bị thiên lệch). Các phép tiêu vượng bổ khuyết thì có rất nhiều, liên quan đến những thứ trong cuộc sống gắn liền với mệnh chủ, như cái tên, ngôi nhà, công việc, người phối ngẫu (vợ chồng), bạn bè, trang sức, quần áo,…

Còn đối với Niên mệnh, hay Hành bản mệnh là khái niệm phổ thông quen thuộc với quảng đại quần chúng ít có kiến thức về phong thuỷ, đặc biệt đối với người Việt Nam. Mọi người thường quá đề cao vai trò của Niên mệnh lên, trong khi thực chất nó chỉ là đại diện cho Niên (tức là năm sinh), không quan trọng như Tứ trụ mệnh được. Ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,… các thầy chủ yếu sẽ chỉ xem Tứ trụ mệnh, chứ không xem Niên mệnh. Với chúng tôi, để chiều lòng khách hàng, và cho phù hợp thị hiếu, vẫn đưa Niên mệnh vào để xét, nhưng tầm quan trọng chỉ là ở mức tối thiểu, nếu so với Tứ trụ mệnh.

Trường hợp cụ thể của chị, cháu nhà mình có Tứ trụ mệnh suy Kim, vượng Thổ Mộc. Nếu suy Kim có thể dẫn đến còi cọc gầy mòn, các bệnh về gan. Vượng Thổ có thể dẫn đến tai nạn về giao thông, leo núi… Trường hợp này đặt tên thuộc hành Kim là hợp nhất, vì vừa bổ khuyết cho Kim đang suy, vừa giúp khắc chế hành Mộc đang vượng (Kim khắc Mộc), vừa giúp tiết chế bớt hành Thổ đang vượng (Thổ sinh Kim).

Trân trọng,
Đàm Kỳ Phương

Chuyên gia trả lời:
Chào bạn, sau năm 2000 thì với tính thiên can không có gì thay đổi, còn với tính địa chi thì bạn cộng thêm 100 vào 2 số cuối nhé.

Ví dụ, năm 2000 thì 2 số cuối là 00, cộng thêm 100 là 100, 100 chia 12 dư 4, vậy là năm Canh Thìn.

Hay năm 2021, số cuối là 1 thì thiên can là Tân. 2 số cuối là 21 cộng thêm 100 là 121, chia 12 dư 1, vậy địa chi là Sửu. Vậy 2021 là năm Tân Sửu.

Về việc cộng thêm 100 này tôi nhớ có nói ở trong video, hoặc có thể đã ghi trong tài liệu rồi. Nếu thiếu sót mong bạn thông cảm!

Chuyên gia trả lời:
Theo phong thủy, mỗi người được đặc trưng bởi Tứ trụ (giờ, ngày, tháng, năm sinh). Mọi người có mối liên hệ (bổ trợ, khắc chế) nhau là liên quan đến Tứ trụ này. Vì từ Tứ trụ, ta suy ra được Thiên can, Địa chi, Ngũ hành, Quẻ dịch… Do đó, việc con cái có hợp hay khắc bố mẹ là do Tứ trụ của con quyết định. Nghĩa là liên quan đến thời điểm của con ra đời. Nên khi xem năm sinh con, chọn ngày sinh mổ, bắt buộc phải có tuổi của bố mẹ để so sánh, phân tích.

Còn tất cả mọi thứ gắn với con (được coi là tài sản riêng của con), như Họ tên, hay những thứ sau này như: sim số điện thoại, quần áo, nhà cửa, giường tủ bàn ghế, trang sức,… là những thứ bổ trợ mệnh cho bản thân con. Chứ những thứ này không có liên quan đến tuổi của bố mẹ.

Trong phong thuỷ vốn tồn tại một khái niệm gọi là Tứ trụ. Ai sinh ra cũng có Tứ trụ mệnh của riêng mình. Tứ trụ này nếu cân bằng là tốt, thiên lệch là xấu. Nhưng hầu hết mọi người đều thiên lệch, rất ít người cân bằng từ đầu. Nên việc đặt tên theo phong thuỷ, cũng như sim phong thuỷ, trang sức phong thuỷ… đóng vai trò chủ yếu để cân bằng Tứ trụ mệnh ấy. Và nó cân bằng cho Tứ trụ mệnh của bản thân người đó thôi. Không thể nào cái tên của con lại cân bằng Tứ trụ mệnh cho bố mẹ được cả.

Cũng tương tự như trường hợp bây giờ anh đi mua nhà, mua xe, mua trang sức quần áo, thì cũng đâu cần phải kiểm tra xem những thứ đó có hợp tuổi với bố mẹ của anh hay không đâu, mà chỉ cần hợp tuổi với anh thôi đúng không ạ?

Chuyên gia trả lời:
Chữ Phương trong Phương Anh: 方, 4 nét, thuộc hành Thủy chứ không phải hành Mộc. Lý do vì cách xác định ngũ hành của bên em là theo luật Ngũ Âm, như đã gửi link bài viết cho anh hôm trước (https://vietaa.com/bai-viet/giai-dap/giai-thich-vi-sao-ngu-hanh-cua-mot-chu-lai-co-nhieu-ket-qua-khac-nhau/)

Hành Thuỷ và Thổ cũng là tương khắc với nhau. Nhưng theo nguyên lý đặt tên theo Danh tính học, sự tương khắc giữa các từ trong tên là tiểu khắc, không quá quan trọng.

Chuyên gia trả lời:
Chào anh,

Trước hết, tôi không theo trường phái về khí trong đất bốc lên, cũng như những bàn luận về tia đất có ảnh hưởng thế nào. Đây cũng là những kiến thức không có trong khoá học của tôi, nên tôi xin phép không trả lời.

Còn về 2 câu hỏi của anh, tôi mạn phép trả lời theo quan điểm của mình:

1. Thứ nhất, về cung tốt, cung xấu xác định thế nào thì đó liên quan đến rất nhiều yếu tố tác động, từ các du niên tốt xấu, đến việc cung đó có cửu tinh an định thế nào, khắc chế giữa sơn hướng tinh với vận tinh, rồi sơn tinh và hướng tinh khắc chế nhau. Tiếp đến còn xem mỗi cung có rơi vào hoàng tuyền bát sát không, có đạt hợp thập sinh thành không, rồi xét thành môn, xét niên bàn nguyệt bàn… Rất nhiều vấn đề, mà anh cần nghiên cứu kỹ nội dung 2 khoá học mới nắm rõ được. Không thể tóm tắt đơn giản ở đây. Biết một cung tốt hay xấu chính là đã nắm vững yếu lĩnh của toàn bộ phong thuỷ nhà. Nếu anh đã hỏi câu này thì anh nên bỏ thời gian nghiên cứu kỹ lại khoá học. Câu trả lời nằm xuyên suốt trong toàn bộ 3 khoá học về phong thuỷ của tôi.

2. Thứ hai, về nghiên cứu phương khí tới, hay cũng chính là nghiên cứu long mạch của đất, thì cần dựa vào địa thế, địa hình. Ví dụ xem dòng chảy của nước thế nào, các thế núi thế sông ra sao. Ở đô thị, thì quan sát đường giao thông, các toà nhà. Long mạch là vô hình, không một phong thuỷ gia nào có Thiên nhãn để có thể quan sát được nó, mà chỉ có thể dựa vào địa hình (là những thứ có thể tác động tới Long mạch) mà suy luận ra mà thôi. Các kinh nghiệm luận đoán địa hình tôi đã nói rất nhiều ở các phần về Loan đầu hình thế, trong các khoá Phong thuỷ cao cấp và Phong thuỷ chuyên gia, do đó anh cũng vui lòng xem kỹ lại.

Trân trọng!

Chuyên gia trả lời:
Thứ nhất nói về ngũ hành tương khắc, thì có 2 hình thức gọi là Khắc xuất và Khắc nhập. Khắc nhập là thuộc tính ngũ hành của ngày khắc chế với bản thân, đây là trường hợp khá xấu. Còn khắc xuất nghĩa là ngũ hành của bản thân khắc chế ngày, trường hợp này thì chỉ coi như là bình, vì không có tác hại vào bản thân.

Trường hợp của anh chính là trường hợp thứ 2, khắc xuất, vì mệnh là Kim, ngày là Mộc. Kim khắc Mộc là khắc xuất, nên không có vấn đề gì. Cái trang đó cứ thấy tương khắc kết luận ngay là xấu là không hiểu vấn đề.

Thứ hai, với việc xem ngày động thổ khởi công, thì phải dựa vào 3 yếu tố rất quan trọng đó là: Can chi của ngày, Thập nhị trực và Sao chiếu. Chứ không phải chỉ nhìn vào cái khắc hợp của ngũ hành đó.

Theo sách Biện kỷ độn thông thư (sách nổi tiếng về xem ngày của Trung Quốc từ thời xưa), thì ngày động thổ nên chọn ngày có can chi là Quý Sửu (tất nhiên còn 1 số ngày khác nữa). Ngày 28/8 chính là ngày Quý Sửu.

Ngày này cũng là ngày rơi vào trực Phá trong Thập nhị trực, trực này bình thường là không tốt, nhưng riêng với vụ động thổ thì lại rất tốt. Chữ Phá ở đây thể hiện sự bắt đầu phá (động) vào lòng đất.

Các sao của ngày này cũng bổ trợ cho việc động thổ nữa.

Tất nhiên mỗi ngày tốt hay xấu còn phải phụ thuộc vào việc cần làm. Có thể ngày này tốt cho động thổ, nhưng với các việc khác như xuất hành, khai trương thì lại không tốt.

Chuyên gia trả lời:
Lễ khai quang linh bài không làm cùng với ngày cúng mụ được vì đây là 2 hệ khác nhau. Để tìm ngày khai quang chính xác nhất thì tôi không trả lời được, mà cái đó phải tính toán chi tiết cụ thể, xét từng yếu tố về tiết khí, về trực, về can chi, ngũ hành, lập các quẻ… Việc này khá mất công và là dịch vụ của công ty. Nếu chị cầu kỳ thì có thể liên hệ với Hoàng Dung qua Zalo để đặt dịch vụ. Còn nếu không thì cứ chọn ngày giờ Hoàng Đạo cũng được.

Về thời hạn sử dụng thì không có, tuy nhiên nếu Linh bài bị rách, bị mờ, bị nát, thì phải làm lại cái mới và phải làm lễ cầu giáng linh lại cho cái mới đó. Nếu mất Linh bài thì chỉ mất tác dụng cầu an của nó thôi, không vấn đề gì cả.

Chuyên gia trả lời:
Đúng là quan điểm này không có lời giải thích rõ ràng và nhất quán. Tôi có biết tới 2 quan điểm như sau:

1. Đặt cầu thang nên ngược chiều kim đồng hồ, bởi vì đây là hướng của đường Lường Thiên Xích. Đây là quan điểm của thầy Nguyễn Tiến Đích mà tôi đã đôi lần nhắc đến. Dù rất kính trọng thầy, nhưng tôi cũng chưa hiểu tại sao thầy lại quy Lường Thiên Xích (đường dịch chuyển của cửu tinh đồ) là ngược kim đồng hồ. Và cũng không thấy có cơ sở cho lập luận này lắm.

2. Đặt cầu thang theo quan điểm của Phong thuỷ Tam Hợp phái, nghĩa là Âm Long thì đi với Dương Thuỷ, và ngược lại Dương Long thì đi với Âm Thuỷ, Long ở đây hiểu là nhà, Thuỷ là dòng nước, hay dòng khí dịch chuyển. Cầu thang cũng là lối dẫn khí. Nên với nhà Âm Long (cửa ra vào bên phải theo hướng từ trong nhìn ra) thì thang nên theo Dương Thuỷ, tức thuận kim đồng hồ. Và ngược lại cũng thế. Đây là các kiến thức trong khoá Phong thuỷ chuyên gia, nên tôi cũng không thể liệt kê hết ra ở đây.

Nói chung, theo quan điểm của tôi, thì cầu thang nên đặt tốt nhất sao cho phù hợp với không gian, yêu cầu sử dụng, tiện lợi về công năng là được. Yếu tố về chiều của cầu thang trong phong thuỷ tôi không thực sự quá đề cao.

Chuyên gia trả lời:
Xác định vị trí các đối tượng trong không gian nhà ở thì chủ yếu phụ thuộc vào các nguyên tắc:

Nguyên tắc 1: những thứ quan trọng ta thường ngồi, nằm (giường, bàn viết, ghế sofa…), hoặc nơi trang nghiêm (tủ thờ), các đồ vật mang tính động (tủ lạnh, máy giặt,…), nơi nguồn nước đến hay thuỷ lai (giếng nước, vòi nước,…), hoặc nơi trữ nước (bể cá, hồ cảnh, bồn nước…) thì phải ở cung tốt, tránh cung xấu. Ngược lại, những thứ được coi là dơ bẩn (nhà xí), nước chảy đi (thuỷ khứ), hay các đồ vật to lớn nặng nề (tủ áo, phòng kho,…) thì nên đặt cung xấu.

Nguyên tắc 2: cân bằng bổ trợ cho ngũ hành hợp hướng. Nếu hướng xấu mang ngũ hành thuộc gì thì cần đặt các vật mang hành khắc chế hoặc tiết chế ở đó. Ví dụ: hướng Nam là hướng xấu mang hành Hoả, thì nên đặt đồ vật thuộc Thổ (tượng đất, bình đất, non bộ…) ở đó. Ngược lại, nếu hướng đó là hướng tốt thì cần đặt các đồ vật mang tính sinh trợ. Ví dụ nếu hướng Nam tốt thì có thể trồng cây, làm các tủ gỗ, tiểu cảnh cây…

Nguyên tắc 3: thuận theo đồ bàn phi tinh Huyền Không. Nếu hướng nào có các sao chủ hướng là sao sinh vượng thì hướng đó cần có Thuỷ. Ngược lại hướng nào có sao chủ sơn là sinh vượng thì hướng đó cần có Sơn.

Nguyên tắc 4: bố cục đồ đạc sao cho tạo được trường khí tốt. Trường khí tốt ở đây phải thoả mãn các điều kiện: trung cung phải thông thoáng, khí từ cửa vào nên uốn lượn thay vì xộc thẳng tới trung cung, từ trung cung phải có lối dẫn khí tới từng khu vực của nhà và lên các tầng. Nói chung, đồ vật phải đặt sao cho hỗ trợ khí di chuyển thay vì cản trở. Riêng với khí trực xung thì lại cần có đồ vật để ngăn lại, biến trực xung thành uốn khúc hữu tình.

Tổng kết: thường thì các nguyên tắc trên có thể mâu thuẫn nhau, đạt được cái này thì mất cái kia. Cho nên khi áp dụng cần linh hoạt, tuỳ từng hoàn cảnh. Nên ưu tiên 2 nguyên tắc sau hơn. Và ngoài ra, còn 1 nguyên tắc cuối cùng mà theo tôi là quan trọng hơn cả, đó là cảm giác của người sử dụng. Một đồ vật được đặt đúng phong thuỷ đến mấy mà công năng không phù hợp, gây cảm giác khó chịu, bất tiện khi sử dụng, thì không nên gượng ép theo phong thuỷ.

Chuyên gia trả lời:
Theo tôi thì không nên quay cửa chính sang 1 ngõ hẹp vì khí trong ngõ nhỏ không thể bằng đường lớn được. Việc mở cửa chính ra hướng nào rất liên quan đến việc quang cảnh chỗ mở ra đó như thế nào. Nếu là hồ nước, sân rộng, đường xá quang quẻ sạch sẽ thì nên ưu tiên. Tiếp đến là cần biết sơ đồ phi tinh Huyền không thế nào. Hướng tinh là sinh vượng khí hay suy tử khí. Cái du niên Bát trạch bạn nói chỉ là phụ thêm thôi đừng quan trọng quá.

Chuyên gia trả lời:
Nếu không biết giờ và ngày sinh thì sẽ không tính được Tứ trụ, vì Tứ trụ cần phải đủ 8 chữ can chi. Và khi không tìm được Tứ trụ, thì việc đặt tên sẽ không thể bổ khuyết được các hành nhược, cũng như làm hao tán (xì hơi) các hành vượng. Khi đó đặt tên sẽ chủ yếu xoay quanh việc tính toán ngũ cách. Và độ chính xác của một cái tên đẹp hay xấu sẽ giảm đi.

Chuyên gia trả lời:
Đúng rồi bạn, tam cấp là 3 bậc, tính cả bậc sàn trên cùng. Về quan niệm Sinh Lão Bệnh Tử nếu chiếu theo số 3 thì rơi vào Bệnh không tốt. Nên có nhiều người lại quan niệm rằng chu trình đúng phải là Sinh Mệnh Lão Tử. Khi đó số 3 rơi vào Lão, là tốt. Thực ra đây chỉ là các quan niệm theo dân gian, không phải lý thuyết chính thống của phong thủy, nên việc áp dụng sao cho đúng cũng là điều gây tranh cãi.

Chuyên gia trả lời:
Giếng là long mạch, thuỷ khẩu nên khi lấp bỏ giếng là làm đứt gãy đường long mạch. Quan niệm chung là như vậy. Nhưng theo tôi nếu chỉ là nhà ở thì không quá quan trọng. Trừ khi là giếng của cả một làng, một xã thì mới quan trọng. Thủ tục xử lý đường long mạch phải có thầy chuyên về long mạch. Tôi chuyên về phong thuỷ lý khí là chính nên không thông thạo, và không thể tư vấn bừa bãi được.

Về linh phù phong thuỷ, có thể đọc chi tiết ở bài viết sau: https://vietaa.com/bai-viet/linh-phu-phong-thuy/

Các phù này bên chúng tôi có bán, nếu cần mua có thể liên hệ Zalo 0983838853 gặp Hoàng Dung.

Chuyên gia trả lời:
Ngày xưa khi làm nhà thì hướng cửa luôn trùng hướng nhà do cửa ở chính giữa mặt tiền nhà. Nên các sách phong thuỷ cổ không có phân biệt 2 hướng này. Nhưng hiện tại nhà hiện đại thì hướng cửa có thể tách biệt với hướng nhà. Các nhà phong thuỷ hiện đại vẫn tranh cãi về việc lập trạch hướng nhà thì theo hướng nhà hay hướng cửa, một số thì chọn hướng nhà, một số lại chọn hướng cửa. Hai bên đều có lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, nên đến nay câu chuyện này vẫn chưa có hồi kết.

Tuy nhiên trong phong thuỷ Huyền Không phi tinh lại khẳng định rõ rằng lập hướng tinh bàn phải theo hướng nhà, nên quan điểm của tôi cho rằng việc lập hướng trong Bát trạch (tìm quẻ trạch) cũng nên theo hướng nhà. Sau khi có sơ đồ bát trạch rồi thì kiểm tra xem hướng cửa có phải ở phương vị cát vượng hay không.

Chuyên gia trả lời:
Đây là cách tính nhẩm của các cụ, nhưng chỉ áp dụng để tính địa chi cho các năm trong thế kỷ 20. Cách này không áp dụng được với các thế kỷ khác. Tuy nhiên, cứ 60 năm là một chu kỳ lục thập hoa giáp, can chi sẽ lặp lại. Hoặc cứ 12 năm là 1 vòng địa chi, thì địa chi sẽ lặp lại. Có thể lợi dụng tính chất này để tính.

Ví dụ năm 2012 sẽ có địa chi giống với năm 2000 và năm 1988 (vì 2012 – 12 = 2000, 2000 – 12 = 1988). Lúc đó tìm được địa chi của 1988 (theo phương pháp đã có) là Thìn, thì 2012 và 2000 cũng là Thìn. Hoặc có thể lấy 2012 – 60 = 1952. Tìm được cả cặp can chi của 1952 là Nhâm Thìn => 2012 cũng là Nhâm Thìn.

Chuyên gia trả lời:
Chào bạn,
Xin trả lời các vấn đề bạn hỏi như sau:

1. Về bài làm phong thủy của bạn: Bạn lập đồ hình phong thủy ở cả 3 phần: bát du niên, vòng sao phúc đức và phi tinh huyền không đều đã chính xác.

Phần luận giải thì mới đúng ở bát du niên và vòng sao phúc đức. Luận giải về Huyền không như vậy là chưa đúng. Trong tinh bàn Huyền không thì có 3 sao, sao ở giữa là sao chủ vận (vận tinh), sao bên trái là sao chủ sơn (sơn tinh), sao bên phải là sao chủ hướng (hướng tinh). Bạn đang sử dụng vận tinh để luận giải. Tuy nhiên, trên thực tế thì sao này hầu như không dùng. Mục đích của nó chỉ là để xác định sơn tinh và hướng tinh mà thôi. Còn luận giải thì chỉ dùng sơn tinh và hướng tinh. Đặc biệt hướng tinh là quan trọng nhất.

Việc bạn luận giải thế nhà hạ thủy (sao Bát bạch tập trung cả ở cung hướng) là đã sử dụng sơn tinh và hướng tinh rồi đó. Ở đây sao Bát bạch số 8 là vượng tinh, nên khi nó nằm ở vị trí chủ hướng, thì tài lộc của nhà này sẽ rất phát triển. Nhưng vì thế mà ở cung sơn (hướng Đông) lại bị suy, dẫn đến nhân đinh (sức khỏe) lại không tốt. Nên mới phải hóa giải hạ thủy để giúp long hướng hồi sơn, giảm bớt tác hại tới nhân đinh.

Ở hướng Đông Nam bạn đặt bếp ở đó là tốt. Vì đó là cung Tuyệt Mệnh, nhưng không được luận theo sao chủ vận (Thất xích). Mà phải luận theo sao chủ sơn (sao số 5 Ngũ hoàng) và sao chủ hướng (sao số 2 Nhị hắc). Hai sao này đều là đại hung tinh khi ở vận 8, nên đặt bếp ở đây giúp hủy đi tà khí của cả 2 sao này.

Bạn cần lưu ý các thế nhà trong Huyền không, như Tam ban quái, Thiên địa sinh thành, Hợp thập… Vì cũng có ảnh hưởng nhiều đến sự tốt xấu của từng cung. Như hướng Đông, tuy phạm Lục Sát nhưng lại đạt Hợp thập, nên cái xấu giảm bớt.

Bạn có thể tham khảo 1 số bài tư vấn về phong thủy cho khách hàng mà tôi đã làm. Bạn vào trang vietaa.com, mục Bài viết, rồi vào phần Khách hàng.


2. Sao Thân hôn là sao tốt bạn nhé. Nếu trong video mà tôi nói là xấu thì chắc là do nhầm lẫn đó.

3. Cầu thang thì bạn có thể đọc ở bài viết này, tôi đã tổng hợp các nội dung trong đó rồi: https://vietaa.com/hoc-phong-thuy/khoa-hoc-phong-thuy-nha-o/luan-giai-cat-hung-cau-thang/

Chuyên gia trả lời:
Trước hết, phải nói rõ để anh/chị hiểu rằng, phong thủy không phải là bất biến. Mà nó sẽ thay đổi theo thời gian. Cũng như khi xem tử vi, cuộc đời con người chia ra làm nhiều đại vận. Mỗi đại vận sẽ có sự khác nhau. Có vận thì tốt, có vận thì xấu. Điều này lý giải cho thấy đa phần mọi người trong suốt cuộc đời đều có lúc sướng, lúc khổ, lúc sang, lúc hèn. Không ai sướng cả đời, khổ cả đời hết.

Đối với căn nhà cũng như vậy, nó sẽ thay đổi theo các vận. Mỗi vận của nhà kéo dài 20 năm. Nhưng nó không tính từ lúc xây ngôi nhà, mà các vận của nhà được thay đổi dựa theo sự dịch chuyển của các chòm sao trong vũ trụ. Điều này được phản ánh thông qua các nghiên cứu của Thiên văn học.

Có tất cả 9 vận của ngôi nhà bao gồm: vận 1, vận 2, vận 3,…, vận 8, vận 9. Hết vận 9 lại quay trở lại vận 1 của chu kỳ tiếp theo.

Hiện tại chúng ta đang ở vào vận 8. Vận này bắt đầu từ năm 2004 đến hết năm 2023. Sang đến năm 2024 thì sẽ sang vận 9. Vận 9 lại kéo dài 20 năm, từ 2024 đến hết năm 2043. Đến 2044 thì là vận 1 của chu kỳ tiếp theo.

Mỗi vận các sao trên bầu trời sẽ dịch chuyển theo một thứ tự khác nhau, nên ngôi nhà sẽ chịu tác động khác nhau. Có vận vượng, vận suy. Có vận thì phạm vấn đề này, vận khác lại phạm vấn đề khác. Cho nên cứ mỗi khi đổi vận, ta lại phải đối chiếu lại về mặt phong thủy để thay đổi lại bố cục, không gian, màu sắc nhà cho phù hợp. Chứ không phải cứ giữ nguyên bất biến được mãi.

Như vậy, khi còn ở vận 8, ta sẽ phải xem đồ hình vận 8 mà ứng dụng sắp xếp nhà ở. Còn sang vận 9, thì lại phải theo đồ hình vận 9 mà thay đổi lại cho phù hợp. Tuy nhiên nếu ở khoảng cuối vận 8 mới chuyển sang vận 9 (năm 2024,2025) thì khí của sao Bát Bạch mới suy giảm chứ chưa hết hẳn. Còn sao Cửu Tử chủ vận 9 thì cũng đang lên chứ chưa phải là vượng nhất. Phải tầm giữa vận 9 thì Cửu Tử mới phát huy hoàn toàn tác dụng của nó. Nên ở thời kỳ giao vận, tốt nhất nên xem cả 2 đồ bàn để tham chiếu cho chuẩn.

Chuyên gia trả lời:
Chào anh, đúng là trong trường hợp này, không thể có cách nào chỉnh cửa chính sang hướng có du niên tốt được, trừ khi mở một ngách nhỏ bên phía mé Tây Nam của nhà (tức là không xây hết đất). Nói chung là hóa giải thôi anh nhé. Ngoài ra, nhà này còn bị Hạ Thủy nữa, cái này còn cần hóa giải hơn cả vấn đề du niên kia. Tôi thấy anh có đăng ký học khóa phong thủy cao cấp, vậy thì nên xem kỹ lại khóa học này trước khi thực hành phong thủy nhé.

Chuyên gia trả lời:
1. Tam hợp Mệnh – Tài – Quan đóng trên cặp tam hợp nào thì mang thuộc tính ngũ hành của cặp tam hợp đó:
– Tam hợp Tỵ Dậu Sửu là tam hợp hóa Kim
– Tam hợp Hợi Mão Mùi là tam hợp hóa Mộc
– Tam hợp Thân Tí Thìn là tam hợp hóa Thủy
– Tam hợp Dần Ngọ Tuất là tam hợp hóa Hỏa

Như vậy, ví dụ Mệnh – Tài – Quan đóng ở Thân Tí Thìn thì ngũ hành của nó thuộc Thủy. Tức là Mệnh thuộc Thủy, Tài thuộc Thủy và Quan cũng thuộc Thủy.

Sau đó, so sánh với thuộc tính ngũ hành của cung địa bàn tương ứng. Ví dụ, Mệnh đóng ở Mùi, là cung địa bàn thuộc Thổ, thì Mệnh sẽ bị khắc (do Thổ khắc Thủy).

Phần này thực ra không quan trọng bằng việc so sánh ngũ hành bản mệnh (niên mệnh) với ngũ hành của tam hợp Mệnh Tài Quan. Hay so sánh cục mệnh với Mệnh Tài Quan. Ví dụ như Mệnh Tài Quan đóng ở Thân Tí Thìn, thuộc Thủy. Mà mệnh là Lư Trung Hỏa, thì là bị khắc.

====================

2. Trong giải đoán lá số tử vi có 2 phần là giải đoán về 12 cung, và giải đoán các đại hạn, tiểu hạn (hay đại vận, tiểu vận). Giải đoán 12 cung thì dễ hơn, gọi là nguyên lý giải đoán căn bản của tử vi. Còn giải đoán theo các hạn thì khá nhiều nội dung phức tạp. Phải tìm cung lưu hạn, sao lưu hạn, rồi ngoài đại tiểu hạn còn phải tìm niên hạn, nguyệt hạn, nhật hạn, thời hạn nữa.

Khóa học tử vi mà tôi đang cung cấp thực ra chỉ là khóa xem tử vi căn bản, chưa có dạy về giải đoán các hạn. Phần đoán hạn này tôi có dự định đưa ra ở khóa tử vi nâng cao, nhưng hiện giờ do điều kiện thời gian và công việc mà chưa thể hoàn thành được.

Hiện tại bạn hỏi về vấn đề này thì tôi không thể trả lời đầy đủ được, do kiến thức về nó là rất nhiều. Nhưng xin lưu ý một số điểm cơ bản như sau:

a. Xem xét tới ý nghĩa tốt xấu của các sao trong cung nhập đại hạn.

b. Tương quan giữa các sao (nhất là chính tinh) của Mệnh, Thân với các sao của cung nhập đại hạn. Xem sao hoặc nhóm sao của Mệnh (nếu chưa quá 30 tuổi) hoặc Thân (nếu trên 30 tuổi) có hợp với các sao nhập đại hạn không. Ví dụ như Mệnh có Tham Lang thuộc Thủy, nếu đại hạn có Tử Phủ thì sẽ xấu vì Tử Phủ thuộc Thổ khắc với chính tinh Tham Lang.

c. Tương quan giữa ngũ hành của bản mệnh (hoặc cục mệnh) và ngũ hành của cung nhập đại hạn. Phải xem xét ngũ hạnh của bản Mệnh (nếu chưa quá 30t) hoặc của Cục (nếu quá 30t) có hợp với ngũ hành của chính tinh và của cung nhập hạn hay không. Hay nhất là được cung và sao sinh bản mạng hoặc Cục (tùy theo trường hợp). Hoặc nếu không, phải tương hòa, nghĩa là cùng 1 hành. Còn trường hợp sinh xuất, tức là mạng sinh sao hoặc cung nhập hạn, và khắc nhập, tức là sao hoặc cung khắc mạng, thì đều xấu cả. Riêng trường hợp khắc xuất tuy cũng vất vả nhưng mình vẫn khắc phục được hoàn cảnh, và do đó chưa hẳn là xấu. Ví dụ Mạng của mình là Thủy đi đến đại hạn có Cự Kị, Không Kiếp cũng chẳng hề gì, nếu có xảy ra cũng chỉ sơ qua. Trong khi đó, nếu mình mạng Hỏa hoặc Kim thì đương nhiên dễ bị hiểm nghèo về họa nước. Hoặc là mạng mình Kim, đi đến cung nhập hạn có Vũ Khúc hội Song Lộc, Tử Phủ…thì làm gì không giàu có. Trong khi mạng Mộc thì có khi khổ vì tiền.

d. Ngoài ra, khi giải đoán về hạn còn phải xét với cung liên hệ. Ví dụ như đương số đã có vợ hoặc chồng mà cần biết về đường con cái trong đại hạn đương diễn tiến thì ngoài các điểm cần phối hợp nêu trên, ta phải quan tâm đến cung tử tức (tức là cung liên hệ đến hoàn cảnh) trước đại hạn. Nếu cung Tử tức quá hiếm hoi, như có Đẩu quân, Cô Quả, Kình Đà, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Không Kiếp chẳng hạn thì dù cho đại hạn đó có đủ Đào hồng hỉ, Thai, Nhật Nguyệt đắc địa, Long Phượng cũng chưa chắc gì sẽ sinh con đẻ cái đầy đặn hoặc may mắn về công danh, tiền tài.

====================

3. Thiên Tướng không phải đại diện cho sự khôi ngô tuấn tú, mà nó thể hiện cho văn tài, tức là tài văn chương. Trừ khi Thiên tướng hội Hồng Loan thì mới thể hiện cho sắc đẹp (mà của phái nữ). Trường hợp sao Thiên Tướng cư cung Quan Lộc là người số quý hiển, có tài văn chương. Cái này có ở trong tài liệu tra cứu kèm theo khóa học (trang thứ 3 phần luận giải lá số).

Nói chung là, không phải trường hợp sao nào cư vào cung nào cũng có ý nghĩa giải đoán cụ thể. Để giải đoán 1 cung, thì còn xem trong cung đó có 2 sao nào hội với nhau hay không nữa. Phần này vui lòng xem kỹ trong tài liệu kèm theo khóa học.

====================

4. Về lập lá số, thì bạn có thể đối chiếu với ứng dụng kèm theo khóa học là được. Tôi đã kiểm tra và thấy ứng dụng đó khá chính xác rồi. Nãy tôi cũng có hỏi Hoàng Dung thì thấy bảo lá số bạn lập cũng giống với phần mềm, như vậy là ổn.

Trân trọng!