Mạch khí phong thủy Thăng Long Hà Nội

Nguyên lý để luận:

– Khí sinh ra hình, khí ra sao thì hình như vậy
– Khí gặp nước thì dừng gặp gió thì tán và ngược lại, khí theo nước mà đi theo gió mà đến.
– Huyệt nhỏ sinh nhân kiệt, huyệt lớn định quốc gia
– Thiên – Địa – Nhân tương hợp. Đất lành chim đậu.

 

Trong nhiều tài liệu và ý kiến đánh giá các phong thuỷ gia đều cho rằng dãy Trường Sơn là long mạch bắt nguồn từ dãy núi Hymalaya và Hà Nội là một đại huyệt thuộc long mạch này, dãy núi Ba Vì là chỗ dựa của Thăng Long….Nhưng đây là những nhận định chưa chính xác.

Thực tế theo nghiên cứu của tôi khi rà soát lại trên địa hình sông núi thì thấy toàn bộ hệ thống các mạch sông núi khi vào đến Việt Nam gồm phía hữu ngạn sông Đà giáp với biên giới Lào và Campuchia chạy vào Nam tới Hà Tiên và các đảo lớn nhỏ, Tả ngạn sông Hồng đi ra biển Đông giáp với biên giới Trung Quốc ở khu vực Móng Cái và các đảo lớn nhỏ cũng như mạch chủ từ Hoàng Liên Sơn chạy tới Ba Vì rồi kết huyệt ở Thăng Long đều thuộc một địa mạch lớn có chỉ giới là 2 con sông Mê Kông và sông Dương Tử bắt đầu từ khu vực Cao nguyên Thanh Tạng (gọi tắt trong tiếng Trung Quốc của cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng) hay cao nguyên Tây Tạng (25~40 độ vĩ bắc, 74-104 độ kinh đông) – là một vùng đất rộng lớn và cao nhất Trung Á cũng như thế giới, với độ cao trung bình trên 4.500 mét so với mực nước biển – được mệnh danh là “mái nhà thế giới”. Sau nhiều lần “biến hoá” mạch chính chạy tới Vân Nam được sông Hồng – sông Đà qua nghênh đón về Việt Nam, rồi kết huyệt ở Thăng Long. Còn lại phân thành các can long Thanh Long và Bạch Hổ .

Năm 1010 khi vua Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long có thể coi là thời điểm mà việc kết huyệt của địa mạch này đã đủ vượng phát, giống như cây đã kết được trái. Trước đó theo truyền thuyết đất Thăng Long đã có Cao Biền dựng thành Đại La với mưu đồ bá vương, nhưng vào thời điểm Cao Biền xây thành huyệt khí chưa kết đủ vượng nên cuối cùng vẫn chưa độc lập được với Trung Quốc.

Sau khi xác định được địa bàn của Tổ sơn ta có thể dễ dàng xác định được Tông sơn, Phụ mẫu sơn, Thanh long, Bạch Hổ, và sa thuỷ của Thăng Long. Khi vào đến đất Việt Nam địa mạch này khởi phát núi Tông sơn là dãy Hoàng Liên, khí thế hùng hậu mạnh mẽ và do đó dễ dàng vượt qua được sự ngăn trở của sông Đà để tiếp tục hành xuống phía dưới hình thành nên Phụ mẫu sơn Ba Vì. Sau khi khởi lên Phụ mẫu sơn thì địa mạch này đã giảm bớt sự cương mãnh mà trầm ổn, tú nhuận hơn nhưng vì mạch khí vẫn còn rất vượng nên không kết huyệt gần Phụ mẫu sơn mà trầm sâu chạy xuống đồng bằng cho đến khi không vượt qua được sự ngăn trở của hệ thống sông Hồng mới dừng lại đột khởi lên một nơi mà theo chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn là : Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ, không thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. So với các vùng lân cận, Hà Nội gần giống như một lòng chảo, giữa lòng chảo đó Thăng Long khởi lên vuông vắn, bằng phẳng, đầy đặn, có đỉnh chính là khu vực Ba Đình ngày nay.
Sau khi Thăng Long kết huyệt thì tổng thể địa hình sông núi của Việt nam đã tạo thành thế huyệt Kiềm và trong Kiềm có Đột (Kiềm – Đột là 2 trong 4 thể huyệt trong phong thuỷ) trên đó Thanh Long là hệ thống các dãy núi phía Bắc từ tả ngạn sông Hồng chạy ra đến Móng Cái tiếp giáp với biển Đông và hệ thống các đảo thuộc Thanh Long sa . Bạch Hổ là hệ thống các dãy núi bắt đầu tư phía hữu ngạn sông Đà chạy vào đến khu vực Hà Tiên giáp với Campuchia và vịnh Thái Lan với những nhóm đảo lớn nhỏ thuộc Bạch Hổ sa ngoài biển Đông. Tuy nhiên quá trình phát triển làm chủ tay Bạch Hổ của huyệt chủ Thăng Long phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử gần 1000 năm, khởi đầu chỉ dừng lại ở khu vực dãy núi Tam Điệp (Ninh Bình) – một chi nhỏ phát sinh từ tay Bạch Hổ – sau này dần dần mới làm chủ xuống phía Nam. Vì khí mạch Thanh Long, Bạch Hổ của Thăng Long rất vượng nên từ các mạch khí chính này tiếp tục phát sinh ra những nhánh long mạch nhỏ hơn hướng về hộ vệ cho huỵêt chính nên tạo cho Thăng Long thế núi phục sông chầu. Nên mỗi khi đất nước có biến, chỉ cần huyệt chủ phát động thì long – hổ ở khắp nơi sẽ hướng về trợ giúp. Nhưng đó chỉ là những chi long nhỏ, còn sức mạnh của Thăng Long vẫn ở huyệt chủ và hai mạch Long – Hổ chính. Nó là hình ảnh của minh chủ sáng suốt, trí lực sâu dầy, tả – hữu mạnh mẽ. Nhất là mạch Bạch hổ vừa mạnh, vừa dài kết phát được nhiều huyệt quý nên quân đội thiện chiến, nhân tài quân sự không bao giờ thiếu. Những can Long tạo nên địa hình Thăng Long hùng vĩ, khí lực mạnh mẽ, rất khó phá nên huyệt chủ sẽ bền vững với thời gian. Trên bản đồ thế giới, phần lớn thủ đô của các quốc gia đều hình thành dựa trên sự thịnh vượng của sinh khí chứ hiếm thủ đô nào có cách cục phong thuỷ rõ ràng, với những can long mạnh bảo vệ như Thăng Long nên đây đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời – (Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn) – và cũng là sự bắt đầu cho những bản anh hùng ca bất hủ về nghệ thuật quân sự bảo vệ đất nước (cũng như là gìn giữ những triều đại ở Thăng Long) khiến thế giới phải khâm phục của dân tộc Việt Nam.

Chân lý chỉ có một nhưng có nhiều cách nhận biết nên trí tuệ của một nhà lãnh đạo sáng suốt hay tri thức của phong thuỷ đều sẽ có chung đáp số. Vào thời điểm năm 1010, khi chưa có bản đồ chính xác và các công cụ hỗ trợ việc quan sát xa nhưng bằng trí tuệ sâu đầy và trực giác tinh anh của người khai sáng cho sự bền vững của Đại Việt vua Lý Thái Tổ và các cận thần đã nhận biết được Thăng Long: ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ, không thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. (Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn). Cho đến tận bây giờ, 1000 năm sau (và sẽ còn lâu hơn nữa), khi bờ cõi của nước Việt đã mở rộng hơn nhiều lần nhưng nhận định của vua Lý Thái Tổ trong Chiếu Dời Đô vẫn còn nguyên giá trị.

Lịch sử đã ghi nhận, trước khi Thăng Long trở thành thủ đô chính thức thì Việt Nam luôn phải đối mặt với sự đô hộ của Trung Hoa, điển hình là 1000 năm Hán hoá – vì trước đó tuy Đại Việt đã có huyệt Đế Vương khởi lên nhưng chỉ là những chi long nhỏ phát từ can Thanh Long – Bạch Hổ chứ mạch chủ chưa kết được huyệt. Nhưng từ khi Thăng Long kết huyệt trở thành đế đô thì giặc Phương Bắc không bao giờ trụ vững được trên đất Việt mà lần nào cũng thất bại thảm hại cho dù thế và lực đã từng làm chủ Châu Âu; chỉ có duy nhất nhà Minh đứng chân được 20 năm do Hồ Quý Ly bỏ Thăng Long dời đô về Thanh Hoá và sau này là 80 năm đô hộ của thực dân Pháp khi nhà Nguyễn dời đô từ Thăng Long vào Huế.